【CWIN】 Link vào CWIN Đăng Ký & Đăng Nhập

Link CWIN Đăng Ký & Đăng Nhập

Tác động của nguồn lực sáng tạo đến lợi thế cạnh tranh của Cwincom hiện đang mở Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com - Đề xuất mô hình nghiên cứu tại Việt Nam

Bài báo Tác động của nguồn lực sáng tạo đến lợi thế cạnh tranh của Cwincom hiện đang mở Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com - Đề xuất mô hình nghiên cứu tại Việt Nam do Hà Nam Khánh Giao[1] - Trần Thành Nam [2](1Phó Giám đốc, Học viện Hàng không Việt Nam - 2Phó Tổng Giám đốc, Hoa Sen Group) thực hiện

Tóm tắt

Nghiên cứu này phát triển và kiểm nghiệm một khung lý thuyết tích hợp để giải thích cách các Cwincom hiện đang mở Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com chuyển đổi năng lực chiến lược và môi trường thành lợi thế cạnh tranh dưới áp lực phát triển bền vững. Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV), lý thuyết đổi mới và năng lực động, mỗi lý thuyết mang đến một góc nhìn riêng biệt, chúng tôi tập trung vào hai năng lực: định hướng chiến lược, cơ chế đổi mới. Vấn đề nghiên cứu đặt ra là làm thế nào các năng lực này tương tác với nhau trong điều kiện hạn chế nguồn lực và khoảng trống thể chế, con đường dẫn đến khả năng cạnh tranh vẫn chưa rõ ràng. Từ đó, chúng tôi đề xuất mô hình nghiên cứu trong đó cơ chế đổi mới sáng tạo nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu thông qua các con đường đổi mới gia tăng và đổi mới đột phá, với sự hỗ trợ của ban lãnh đạo cấp cao và năng lực động, tạo điều kiện thuận lợi trong bối cảnh hạn chế nguồn lực.

Từ khóa: năng lực đổi mới, năng lực động, lợi thế cạnh tranh, Cwincom hiện đang mở Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com, Việt Nam.

1. Giới thiệu

Sản xuất luôn là động lực chính thúc đẩy M.Cwin800.com Nổ hũ, Bắn Cá và Game Bài, việc làm ở nhiều nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam (Agyeiwaah & McKercher, 2025). Bên cạnh tiềm năng này, các ngành Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com còn phải đối mặt với áp lực cân bằng giữa tính cạnh tranh và tính bền vững (Simarmata et al., 2024). Các Cwincom hiện đang mở cần củng cố vị thế thị trường trong một ngành Cwin là sân chơi cá cược trực tuyến tại Việt Nam toàn cầu hóa và số hóa, đồng thời giải quyết sự giám sát từ chính phủ, người M.Cwin800.com thể thao, casino live, bắn cá và slot nổ hũ và các tổ chức quốc tế liên quan đến trách nhiệm môi trường và CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport (Buhalis et al., 2019). Đổi mới thường được xác định là cơ chế để đạt được sự cân bằng này, tuy nhiên, các con đường mà qua đó năng lực chuyển hóa thành đổi mới và lợi thế cạnh tranh vẫn chưa được khám phá đầy đủ ở các nền kinh tế mới nổi, nơi mà các hạn chế về nguồn lực, thể chế yếu kém và quản trị phân mảnh khác biệt so với các thị trường phát triển (Alokshe et al., 2025; Sengura et al., 2024). Mặc dù lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) và năng lực động đã được nghiên cứu rộng rãi, nhưng việc ứng dụng kết hợp chúng trong các ngành Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com bị hạn chế về nguồn lực ở các nền kinh tế mới nổi vẫn chưa được khám phá đầy đủ. Hơn nữa, sự thay thế giữa các năng lực động và các con đường đổi mới hiếm khi được xem xét.

RBV vẫn chưa được ứng dụng sâu vào Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com ở các nền kinh tế mới nổi, với hầu hết các nghiên cứu tập trung vào bối cảnh phát triển với các thể chế ổn định (Barney, 1991; Eisenhardt & Martin, 2017). Hiện có không nhiều thông tin về cách các Cwincom hiện đang mở trong bối cảnh hạn chế nguồn lực như Việt Nam huy động năng lực chiến lược và môi trường trong điều kiện thiếu hụt thể chế, áp lực bền vững và kỳ vọng thay đổi của người M.Cwin800.com thể thao, casino live, bắn cá và slot nổ hũ. Nghiên cứu này tích hợp các quan điểm RBV và đổi mới, đưa ra những hiểu biết về cách thức thay thế giữa năng lực năng động và năng lực đổi mới, định hình khả năng cạnh tranh ở các thị trường mới nổi.

Khung lý thuyết này kết hợp 3 quan điểm. RBV nhấn mạnh các tài sản như uy tín thương hiệu, định hướng chiến lược và cơ chế quản trị (Jansen và cộng sự, 2005). Lý thuyết đổi mới giải thích cách các tài sản chuyển thành kết quả: đổi mới gia tăng nâng cao khả năng cạnh tranh hàng ngày, trong khi đổi mới đột phá cho phép định vị lại chiến lược (Benner & Tushman, 2003; Camisón & Monfort-Mir, 2012). Khả năng lãnh đạo và năng lực động hợp pháp hóa các sáng kiến, tái cấu hình nguồn lực và duy trì hiệu suất trong điều kiện không chắc chắn (Teece, 2007).

2. Tổng quan tài liệu

2.1. Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV): Tài sản chiến lược và quản trị

RBV cho rằng các Cwincom hiện đang mở đạt được lợi thế bền vững bằng cách triển khai các nguồn lực có giá trị, hiếm, không thể bắt chước và không thể thay thế (Barney, 1991). Tuy nhiên, các nguồn lực phải được huy động thông qua năng lực tổ chức phù hợp với chiến lược (Eisenhardt & Martin, 2017). Trong các ngành Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com, định hướng chiến lược và cơ chế đổi mới đặc biệt quan trọng vì khả năng cạnh tranh dựa trên kiến thức và sự sáng tạo (Camisón & Villar-López, 2014). Định hướng chiến lược tích hợp đổi mới vào quá trình ra quyết định và học hỏi, cho phép thích ứng với nhu cầu thay đổi (Mendes et al., 2023; Meng et al., 2025). Cơ chế đổi mới cấu trúc và điều chỉnh đổi mới phù hợp với chiến lược của Cwincom hiện đang mở, cân bằng giữa khám phá và khai thác, đồng thời đảm bảo trách nhiệm giải trình (Fernando et al., 2019). Tại các nền kinh tế mới nổi, cơ chế thay thế cho quy định yếu kém và định hướng chiến lược bù đắp cho các tín hiệu thị trường không đầy đủ.

Lý thuyết đổi mới (Innovation Theory): Con đường cải tiến gia tăng và đột phá

Lý thuyết đổi mới phân biệt đổi mới gia tăng, giúp cải thiện quy trình và dịch vụ, với đổi mới đột phá, giúp định hình lại thị trường (Benner & Tushman, 2003). Đổi mới gia tăng dựa trên các quy trình hiện có và tạo ra hiệu suất ổn định (Clauss, 2017), trong khi đổi mới đột phá cho phép tạo sự khác biệt thông qua các mô hình kinh doanh mới (Meng et al., 2025). Trong bối cảnh nguồn lực hạn chế như ở Việt Nam, đổi mới gia tăng mang lại con đường cạnh tranh đáng tin cậy hơn, trong khi đổi mới đột phá mang lại lợi nhuận có điều kiện hoặc giảm dần trừ khi được hỗ trợ bởi sự lãnh đạo mạnh mẽ.

Năng lực động (Dynamic Capabilities): Lãnh đạo và khả năng thích ứng

Lãnh đạo và khả năng thích ứng định hình cách thức các năng lực tạo ra kết quả. Sự hỗ trợ của ban lãnh đạo cấp cao hợp pháp hóa và cung cấp nguồn lực cho đổi mới, thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên liên quan (Messori & Volo, 2025). Năng lực động cho phép các Cwincom hiện đang mở cảm nhận, nắm bắt và tái cấu trúc nguồn lực trong điều kiện không chắc chắn (Teece, 2007), duy trì khả năng cạnh tranh trong các cú sốc như đại dịch hoặc biến đổi khí hậu (Wang et al., 2015). Trong khi ở các nền kinh tế phát triển, năng lực năng động thường bổ sung cho đổi mới đột phá, thì ở các thị trường mới nổi, chúng có thể thay thế bằng cách cung cấp sự ổn định thích ứng khi các dự án cấp tiến quá tốn kém hoặc rủi ro (Singh & Kumar, 2025).

2.2. Phát triển giả thuyết

Quan điểm RBV là một lý thuyết nền tảng trong quản lý chiến lược, nhấn mạnh rằng lợi thế cạnh tranh bền vững bắt nguồn từ các nguồn lực và năng lực có giá trị, hiếm có, không thể bắt chước và không thể thay thế (Barney, 1991). Các nghiên cứu sau này nhấn mạnh rằng các nguồn lực vốn dĩ không mang tính chiến lược mà chỉ trở nên như vậy khi được huy động thông qua các năng lực tổ chức phù hợp với cơ hội thị trường (Eisenhardt & Martin, 2017).

Hai cấu trúc dựa trên RBV là trọng tâm: định hướng chiến lược hướng tới đổi mới (Strategic Orientation toward Innovation-SOI) và cơ chế đổi mới (Innovation Governance- IG). SOI phản ánh mức độ mà một Cwincom hiện đang mở tích hợp đổi mới vào văn hóa, chiến lược và quá trình ra quyết định của mình (Hurley & Hult, 1998). Các Cwincom hiện đang mở có SOI mạnh liên tục theo dõi môi trường, phân bổ nguồn lực cho thử nghiệm và thúc đẩy học tập trong tổ chức. Trong các ngành Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com, SOI cho phép các Cwincom hiện đang mở dự đoán những thay đổi trong hành vi của người M.Cwin800.com thể thao, casino live, bắn cá và slot nổ hũ (ví dụ: đặt phòng trực tuyến hoặc kỳ vọng về tính bền vững) và thiết kế các dịch vụ giúp họ khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các Cwincom hiện đang mở định hướng đổi mới thích ứng hiệu quả hơn với sự biến động và duy trì lợi thế lâu dài (Garrido-Moreno et al., 2024).

H1a. Định hướng chiến lược đối với đổi mới (SOI) có mối quan hệ tích cực với lợi thế cạnh tranh (CA).

Cơ chế đổi mới (IG) đề cập đến các hệ thống và cấu trúc điều chỉnh và phối hợp các nỗ lực đổi mới. Các cơ chế quản trị thiết lập trách nhiệm giải trình, xác định quyền quyết định và đảm bảo rằng các dự án đổi mới phù hợp với các mục tiêu chiến lược (Tidd & Bessant, 2014). Trong môi trường phân mảnh và Trong bối cảnh không chắc chắn của ngành Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com Việt Nam, IG mang lại sự ổn định và giảm thiểu rủi ro bằng cách đảm bảo các đổi mới có khả năng mở rộng và nhất quán về mặt chiến lược. Các nghiên cứu trước đây nhấn mạnh rằng các cơ chế quản trị được thiết kế tốt củng cố khả năng cạnh tranh trên thị trường (Jayaraman & Liu, 2019).

H1b. Cơ chế đổi mới (IG) có mối quan hệ tích cực với lợi thế cạnh tranh (CA).

Mặc dù RBV nhấn mạnh các năng lực quan trọng, nhưng tác động cạnh tranh của chúng không trực tiếp mà được hiện thực hóa thông qua đổi mới. Lý thuyết đổi mới phân biệt giữa đổi mới gia tăng và đổi mới đột phá, đại diện cho hai con đường mà các công ty chuyển đổi năng lực thành kết quả hoạt động (Benner & Tushman, 2003).

Năng lực đổi mới đột phá (Breakthrough Innovation Capacity- BIC) liên quan đến những thay đổi triệt để định hình lại trải nghiệm khách hàng, giới thiệu các mô hình kinh doanh mới hoặc định vị lại các công ty trong thị trường toàn cầu (O'Connor & Ayers, 2005). Các nghiên cứu gần đây xác nhận rằng những năng lực như vậy cho phép các công ty duy trì khả năng cạnh tranh thông qua đổi mới mang tính chuyển đổi (Hou et al., 2024). Tuy nhiên, tại các nền kinh tế mới nổi, BIC có thể mang lại lợi nhuận có điều kiện hoặc giảm dần trừ khi được bổ sung bởi các quy trình thích ứng hoặc sự hỗ trợ mạnh mẽ từ lãnh đạo.

H2a. BIC đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa SOI và CA.

H2b. BIC đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa IG và CA.

Năng lực đổi mới gia tăng (Incremental Innovation Capacity- IIC) bao gồm những cải tiến nhỏ, liên tục trong các quy trình và dịch vụ. Mặc dù ít được chú ý hơn, IIC giúp nâng cao hiệu quả, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng (Clauss, 2017). Trong ngành du lịch, đổi mới gia tăng thường liên quan đến việc nâng cấp kỹ thuật số hệ thống đặt phòng, cải thiện cá nhân hóa dịch vụ hoặc các hoạt động thân thiện với môi trường hơn. Đối với các thị trường mới nổi như Việt Nam, IIC đại diện cho con đường đáng tin cậy hơn để đạt được khả năng cạnh tranh trong điều kiện nguồn lực hạn chế và khoảng trống thể chế.

H2c. IIC đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa SOI và CA.

H2d. IIC đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa IG và CA.

Năng lực và đổi mới không hoạt động độc lập. Hiệu quả của chúng phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của lãnh đạo và khả năng thích ứng của tổ chức, đóng vai trò là các yếu tố điều tiết trong mối quan hệ giữa năng lực - đổi mới - lợi thế.

Sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao đối với đổi mới (Top-management Support for Innovation- TMSI) đề cập đến mức độ mà các nhà lãnh đạo tích cực ủng hộ, cung cấp nguồn lực và hợp pháp hóa các nỗ lực đổi mới. Sự hỗ trợ của lãnh đạo làm giảm sự kháng cự của tổ chức, thúc đẩy sự hợp tác và báo hiệu tầm quan trọng chiến lược của đổi mới (Zhou & Wu, 2010). Tại Việt Nam, nơi các Cwincom hiện đang mở thường phải đối mặt với những khoảng trống thể chế và quản trị phân mảnh, TMSI có thể bù đắp bằng cách định hình văn hóa tổ chức và huy động nguồn lực cho đổi mới. Theo đó, TMSI được kỳ vọng sẽ tăng cường tác động của năng lực đến kết quả đổi mới.

H3a. TMSI điều tiết tác động của SOI lên BIC.

H3b. TMSI điều tiết tác động của IG lên BIC.

H3c. TMSI điều tiết tác động của SOI lên IIC.

H3d. TMSI điều tiết tác động của IG lên IIC

Phát triển năng lực động (Dynamic Capabilities Development - DCD) nắm bắt khả năng tổng quát của một Cwincom hiện đang mở trong việc nhận biết cơ hội, nắm bắt chúng và tái cấu hình nguồn lực để ứng phó với biến động (Teece, 2007). DCD mạnh mẽ cho phép các Cwincom hiện đang mở thích ứng cả những đổi mới gia tăng và đột phá với các cú sốc bên ngoài như đại dịch, biến đổi khí hậu hoặc gián đoạn địa chính trị (Protogerou et al., 2012). Ở các nền kinh tế mới nổi, DCD có thể không chỉ đóng vai trò bổ sung mà còn là sự thay thế cho đổi mới đột phá: các Cwincom hiện đang mở có thể đạt được khả năng cạnh tranh bằng cách dựa vào các quy trình thích ứng hơn là các đổi mới triệt để tốn nhiều nguồn lực.

H4a. DCD điều tiết mối quan hệ giữa BIC và CA, có khả năng thay thế BIC khi nguồn lực khan hiếm.

H4b. DCD điều tiết của mối quan hệ giữa IIC và CA, củng cố vai trò của nó như một con đường ổn định dẫn đến khả năng cạnh tranh.

3. Thiết kế nghiên cứu

Một cuộc khảo sát định lượng cắt ngang sẽ được tiến hành để kiểm tra khung lý thuyết.

Dự kiến phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng theo tiểu ngành, quy mô Cwincom hiện đang mở và địa điểm, với số lượng Cwincom hiện đang mở được chọn từ mỗi tiểu ngành tỷ lệ thuận với đóng góp của tiểu ngành đó vào doanh thu Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com của TPHCM. Dự kiến 500 Cwincom hiện đang mở sẽ được mời tham gia, mỗi Cwincom hiện đang mở được đại diện bởi 1 quản lý cấp cao hoặc chủ sở hữu.

Tất cả các yếu tố cấu thành đều được đo lường bằng các thang đo Likert 5 bậc (1 = hoàn toàn không đồng ý, 5 = hoàn toàn đồng ý). Các thang đo Likert được chấp nhận rộng rãi trong nghiên cứu tổ chức để nắm bắt các yếu tố tiềm ẩn (Sullivan & Artino Jr, 2013). Các mục câu hỏi được điều chỉnh cho phù hợp với ngành Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com thông qua tham vấn chuyên gia và thử nghiệm trước, và cuộc khảo sát được thực hiện bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt bằng phương pháp dịch ngược để đảm bảo sự tương đương về ngữ nghĩa (Brislin, 1986).

Mô hình đo lường được đánh giá bằng tính nhất quán nội bộ, với hệ số Cronbach alpha và độ tin cậy tổng hợp trên 0,70. Tính hợp lệ hội tụ được đánh giá bằng các giá trị Phương sai trung bình được trích xuất (AVE) vượt quá 0,50. Tính hiệu lực phân biệt được hỗ trợ bởi tiêu chí Fornell–-Larcker.

Mô hình cấu trúc dự kiến xử lý bằng PLS-SEM, trong đó mô hình tổng thể giải thích được bao nhiêu % phương sai của lợi thế cạnh tranh (R² hiệu chỉnh; F, p). Phân tích trung gian và phân tích điều tiết cũng được xử lý bằng PLS-SEM. Từ đó, việc kiểm định tất cả các giả thuyết được đề cập đến, và tính giải thích thực tế từ các Cwincom hiện đang mở Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com cũng được kết luận (Giao & Vương, 2019).

4. Hạn chế và Hướng nghiên cứu Tương lai

Nghiên cứu này có một số hạn chế, gợi ý những hướng nghiên cứu trong tương lai. Thứ nhất, thiết kế khảo sát cắt ngang hạn chế khả năng suy luận nhân quả. Thứ hai, các khái niệm như năng lực động được báo cáo tự nguyện, dẫn đến khả năng sai lệch. Thứ ba, nghiên cứu chỉ dừng ở đề xuất mô hình nghiên cứu, mà chưa triển khai thực nghiệm. Đó cũng chính là gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

Agyeiwaah, E., & McKercher, B. (2025). Developing a thriving domestic tourism sector in emerging economies: a horizon 2050 paper. Tourism Review, 80(1), 28-38.

Alokshe, M. M., Adedokun, M. W., & Iyiola, K. (2025). Advanced manufacturing technologies, strategic agility, business network and sustained competitive performance: an empirical evidence from an emerging economy. Humanities and Social Sciences Communications, 12(1), 1-16.

Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of management, 17(1), 99-120.

Benner, M. J., & Tushman, M. L. (2003). Exploitation, exploration, and process management: The productivity dilemma revisited. Academy of management review, 28(2), 238-256.

Brislin, R. W. (1986). The wording and translation of research instruments.

Buhalis, D., Harwood, T., Bogicevic, V., Viglia, G., Beldona, S., & Hofacker, C. (2019). Technological disruptions in services: lessons from tourism and hospitality. Journal of service management, 30(4), 484-506.

Camisón, C., & Monfort-Mir, V. M. (2012). Measuring innovation in tourism from the Schumpeterian and the dynamic-capabilities perspectives. Tourism management, 33(4), 776-789.

Camisón, C., & Villar-López, A. (2014). Organizational innovation as an enabler of technological innovation capabilities and firm performance. Journal of Business Research, 67(1), 2891-2902.

Clauss, T. (2017). Measuring business model innovation: conceptualization, scale development, and proof of performance. R&D Management, 47(3), 385-403.

Eisenhardt, K. M., & Martin, J. A. (2017). Dynamic capabilities: what are they? The SMS Blackwell handbook of organizational capabilities, 341-363.

Fernando, Y., Jabbour, C. J. C., & Wah, W.-X. (2019). Pursuing green growth in technology firms through the connections between environmental innovation and sustainable business performance: does service capability matter? Resources, Conservation and Recycling, 141, 8-20.

Garrido-Moreno, A., Martín-Rojas, R., & García-Morales, V. J. (2024). The key role of innovation and organizational resilience in improving business performance: A mixed- methods approach. International Journal of Information Management, 77, 102777.

Giao, H. N. K., & Vương, B. N. (2019). Giáo trình Cao học Phương pháp Nghiên cứu Khoa học trong Cwin.com được xếp hạng cao nhất- Cập nhật SmartPLS. Hà Nội: Nhà xuất bản Tài chính. ISBN: 978-604-79-2154-6.

Hou, J., Yang, X., & Song, H. (2024). The Impact of Scientific and Technological Information Resource Utilization on Breakthrough Innovation in Enterprises: The Moderating Role of Strategic Aggressiveness. Systems, 12(7), 248.

Hurley, R. F., & Hult, G. T. M. (1998). Innovation, market orientation, and organizational learning: an integration and empirical examination. Journal of Marketing, 62(3), 42-54.

Jansen, J. J., Van Den Bosch, F. A., & Volberda, H. W. (2005). Managing potential and realized absorptive capacity: how do organizational antecedents matter? Academy of management journal, 48(6), 999-1015.

Jayaraman, V., & Liu, Z. (2019). Aligning governance mechanisms with task features to improve service capabilities---an empirical study of professional service outsourcing in India. Operations Management Research, 12(1), 19-39.

Mendes, T., Braga, V., Silva, C., & Ratten, V. (2023). Taking a closer look at the regionally clustered firms: How can ambidexterity explain the link between management, entrepreneurship, and innovation in a post-industrialized world? The Journal of Technology Transfer, 48(6), 2007-2053.

Meng, J., Begum, M., Na, M., & Shah Alam, S. (2025). The Impact of Innovative Culture on Adaptive Marketing and Service Innovation in Hospitality: A Strategic Perspective. Journal of Quality Assurance in Hospitality & Tourism, 1-38.

Messori, S., & Volo, S. (2025). Tourism firms’ coordination unravelled. Current Issues in Tourism, 28(1), 13-35.

O'Connor, G. C., & Ayers, A. D. (2005). Building a radical innovation competency. Research- Technology Management, 48(1), 23-31.

Protogerou, A., Caloghirou, Y., & Lioukas, S. (2012). Dynamic capabilities and their indirect impact on firm performance. Industrial and corporate change, 21(3), 615-647.

Sengura, J. D., Mu, R., & Zhang, J. (2024). Towards frugal innovation capability in emerging markets within the digitalization epoch: Exploring the role of strategic orientation and organizational ambidexterity. Journal of Theoretical and Applied Electronic Commerce Research, 19(3), 2000-2029.

Simarmata, E., Kusumastuti, R., & Wijaya, C. (2024). Achieving sustainable competitiveness of tourism dynamics with resource-based view. European Journal of Innovation Management, 27(3), 1001-1023.

Singh, A., & Kumar, V. (2025). Organizational Innovation and Adaptation in Hospitality and Tourism: Strategies for Resilience and Leadership. In Open Innovation and Technology in Tourism and Hospitality (pp. 355-372). IGI Global Scientific Publishing.

Sullivan, G. M., & Artino Jr, A. R. (2013). Analyzing and interpreting data from Likert-type scales. Journal of graduate medical education, 5(4), 541.

Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: the nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance. Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350.

Tidd, J., & Bessant, J. R. (2014). Strategic innovation management. John Wiley & Sons.

Wang, C. L., Senaratne, C., & Rafiq, M. (2015). Success traps, dynamic capabilities and firm performance. British Journal of Management, 26(1), 26-44.

Zhou, K. Z., & Wu, F. (2010). Technological capability, strategic flexibility, and product innovation. Strategic Management Journal, 31(5), 547-561.

The impact of creative resources on the competitive advantage of manufacturing enterprises: A proposed research model in Vietnam

Ha Nam Khanh Giao1

 Tran Thanh Nam2

1Deputy Director, Vietnam Aviation Academy

2Deputy General Director, Hoa Sen Group

Abstract

This study develops and empirically examines an integrated theoretical framework to explain how manufacturing firms transform strategic and environmental capabilities into competitive advantages under increasing pressures for sustainable development. Drawing on the Resource-Based View (RBV), innovation theory, and the dynamic capabilities perspective—each providing a distinct analytical lens—the study focuses on two key capabilities: strategic orientation and innovation mechanisms. The central research problem concerns how these capabilities interact in contexts characterized by limited resources and institutional constraints, where pathways to sustained competitiveness remain uncertain. Accordingly, the study proposes a research model in which innovation mechanisms enhance firm competitiveness primarily through both incremental and disruptive innovation pathways, supported by senior leadership and dynamic capabilities that enable organizations to effectively mobilize and reconfigure resources in resource-constrained environments.

Keywords: innovation capability, dynamic capabilities, competitive advantage, manufacturing enterprises, Vietnam.

[CWIN ✅ Nhà cái cờ bạc trực tuyến tốt nhất và Thương hiệu uy tín - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 4 năm 2026]

CWIN ✅ Nhà cái cờ bạc trực tuyến tốt nhất và Thương hiệu uy tín