Bên cạnh đình làng Đình Bảng là đền Đô còn gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế. Đền được xây dựng vào thế kỷ XI (1030) trên khu đất phía Đông Nam Hương Cổ Pháp, Châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê đền Đô đều được quan tâm tu sửa và mở rộng, đặc biệt Đền được mở rộng nhất vào thế kỷ XVII (1602) với quy mô của 21 hạng mục công trình được sắp xếp theo kiểu "Nội công ngoại quốc", xung quanh có tường thành vây bọc. Kiến trúc của đền có sự kế thừa phong cách cung đình và phong cách dân gian, tổng thể kiến trúc được kết hợp hài hoà, chạm khắc tinh xảo, thể hiện một công trình kiến trúc bề thế vững chắc nhưng không cứng nhắc trong khung cảnh thiên nhiên. Đến với đền Đô, chúng tôi không chỉ được chìm đắm trong không gian lịch sử của 8 triều đại nhà Lý mà còn tự hào về một người phụ nữ tuyệt vời là Nguyên phi Ỷ Lan hai lần nhiếp chính đã thi hành những biện pháp dựng nước, yên dân, loạn lạc được dẹp yên, dân đói được cứu sống, khiến cho thế nước và sức dân mạnh hẳn lên. Cũng tại đây, chúng tôi có dịp được hiểu thêm về cuộc đời của bà Lý chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng nhà Lý. Vì sự tồn vong của Link vào Cwin Cá Cược Thể Thao 2026, bà đã nhường ngôi cho chồng, nhường chồng cho chị, đặc biệt đã sinh ra cho dân tộc Việt Nam một anh hùng hào kiệt là Trần Bình Trọng.
Cách đền Đô khoảng 10 km là chùa Phật Tích, chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (còn gọi là núi Lạn Kha, non Tiên), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Theo thư tịch cổ và truyền thuyết, chùa Phật Tích tên chữ là “Vạn Phúc Tự” là nơi Phật giáo từ Ấn Độ đặt bước chân đầu tiên truyền giáo vào nước ta ngay từ buổi đầu Công nguyên. Đến thời vua Lý Thánh Tông, chùa Phật Tích được xây dựng thành Đại danh lam gồm cây tháp cao 10 trượng, trong chứa pho tượng Phật mình vàng cao 6 xích, đứng từ kinh thành Thăng Long nhìn thấy được. Dấu tích chân cây tháp cổ còn để lại, có kích thước rất lớn (9,20m x 9,20m) với những viên gạch ghi rõ niên đại xây dựng: “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (tức vào đời vua thứ 3 nhà Lý niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm thứ 4-(1057). Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích.
Leo lên đến đỉnh núi để chiêm ngưỡng bức tượng phật A-di-đà khổng lồ, ai nấy đều rất mệt và khát. May mắn thay, ở giữa núi non này cũng có người bán hàng, và đặc biệt là có cả bia Hà Nội. Trong sự huyền bí của mây, mưa và khói, ngồi nhâm nhi bắp ngô nướng cùng lon bia Hà Nội thật không còn gì thú vị hơn. Cánh đàn ông vừa uống bia vừa bàn luận sôi nổi về kiến trúc và vẻ đẹp của bức tượng, còn chị em thì tranh thủ tạo dáng chụp ảnh làm kỷ niệm. Có cơ hội trổ tài làm một photographer chuyên nghiệp, tôi cố gắng ghi lại những khoảnh khắc đẹp nhất để các chị lưu giữ những hình ảnh đẹp trong chuyến đi này. Lệ Thủy, cô kỹ sư xinh đẹp của phòng kỹ thuật xúc động chia xẻ: “Mấy năm trước vì bận nên em không tham gia được với các anh chị, năm nay được tham gia vào chuyến đi này em thấy vui lắm. Sau này em sẽ không bỏ lỡ những chuyến đi đầy ý nghĩa như thế này nữa”.
Rời chùa Phật tích, chúng tôi đến Chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự) nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đi sâu vào trong chùa, chúng tôi như lạc vào một thế giới khác, một thế giới huyền bí bởi sự hiện diện của hàng trăm pho tượng, trong đó có pho tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam.
Điểm dừng chân cuối cùng của chúng tôi là chùa Dâu. Đây là trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam, cũng là nơi in những bản kinh sớm nhất. Tục truyền, một cây đa thần thoại trôi dưới sông, được bàn tay thần thoại của á Nam Tiên nữ (Man Nương) vớt lên. Khi cây đa được đặt lên mặt đất thì tiên nữ đã biến mất, đã "hạc nội mây ngàn". Cây đa được xẻ ra, tạc thành 4 pho tượng để thờ. Đó là 4 vị Phật Mẫu gồm 4 chị em: Phật Vân, Phật Vũ, Phật Lôi, Phật Điện (cũng gọi là tứ Pháp). Chị cả được thờ tại Chùa Dâu, chị hai ở Chùa Đậu, chị Ba thì ở Chùa Tướng và cô em út được thờ ở Chùa Dàn. Chùa Dâu là chùa chính, nguy nga nhất, tượng bà Dâu đặt ở chính giữa chùa chính, cao 2m85 (cả tượng lẫn bệ). Bà vừa là Phật, vừa là nữ chúa bản địa. Nơi đây, hàng năm nhân dân thường mở hội gọi là hội chùa Dâu, khắp nơi nô nức về dự hội:
Dù ai buôn bán trăm nghề
Tháng tư, mồng tám thì về chùa Dâu.
Dù ai buôn đâu, bán đâu
Nhớ ngày mồng tám, hội Dâu thì về...
Trước khi rời chùa Dâu, thấy chị Phạm Thu Hương, Trưởng ban nữ công HABECO chăm chú ghi lại mười điều khuyên của Phật, tôi rất tò mò. Hỏi thì chị bảo, ghi lại để về gửi cho các chị em cùng chiêm nghiệm.
Chia tay đất kinh Bắc, ông Nguyễn Hồng Linh Tổng giám đốc HABECO đã nói vui “Đây là một chuyến đi hết sức ý nghĩa, nhờ có chị em mà lần này anh em chúng tôi đã hiểu hơn về miền đất không chỉ nổi tiếng với làn điệu dân ca quan họ đã được thế giới công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể mà còn nổi tiếng với trung tâm phật giáo và những ngôi chùa có quy mô to lớn, cổ kính, kiến trúc tạo tác rất công phu, tài nghệ như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp... Hy vọng sau chuyến đi này, chị em sẽ được tiếp thêm sức mạnh từ hai người phụ nữ tiêu biểu thời nhà Lý là Nguyên Phi Ỷ Lan và Lý Chiêu Hoàng để phục vụ tốt hơn nữa cho sự nghiệp phát triển của Tổng công ty”.

