Báo chí Việt Nam đã qua hơn 20 năm đổi mới. Cũng như mọi mặt của đất nước, báo chí nước nhà cũng trải qua nhiều thời kỳ thay đổi. Từ những năm 1986-1987 trở về trước, cũng như nền kinh tế Việt Nam , báo chí chuyên minh họa, ca ngợi… để có một cuộc sống vật chất bao cấp theo thang bậc lương nhà nước ấn định. Ngày ấy, báo lớn, nhỏ ở trung ương, tỉnh, bộ, ngành…đều có cách tác nghiệp và mức sống, điều kiện làm việc khắc khổ không khác nhau là mấy.
Nhưng từ sau Đại hội 6 của Đảng, nhờ tinh thần “nói thẳng, nói thật” đã làm báo chí “đổi đời” khởi sắc. Báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Văn Nghệ, Hàng không Việt Nam, Lao Động, Đại Đoàn Kết… “nổi đình đám” với những bài chân thực về lao động sản xuất, cuộc sống nông thôn, thành thị thời bao cấp, chống tiêu cực, hưởng ứng “những việc cần làm ngay” của tác giả NVL. Từ đây, báo chí có khả năng thương mại, tự hạch toán kinh doanh, đi đầu là các báo như Tuổi trẻ, Thanh niên, Tiền Phong, Văn nghệ…
Được nói thẳng, nói thật và tự chủ kinh tế, báo chí Việt Nam đã đi trước phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới và người làm báo chưa bao giờ trở nên “hữu dụng” với đất nước, với nhân dân, với Đảng như bây giờ. Có thể nói, từ những năm 1995 đến những 2006-2007 khi nền kinh tế nước ta phát triển sôi động, báo chí trải qua thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất cả số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, những năm gần đây, khi số lượng các tờ báo đã đến “bão hòa”, sự tài trợ của nhà nước, cơ quan chủ quản ít đi hoặc không còn, sự cạnh tranh giữa các báo, các phương tiện tuyền thông khác như truyền hình tăng lên thì những tờ báo nghèo, ít kinh nghiệm, quản lý kém, phản ánh những mảng thông tin không hấp dẫn…lâm vào khó khăn.
Một đòn nặng mới giáng cho báo chí là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008-2009 kéo dài cho đến tận ngày nay. Do kinh tế suy thoái, sản xuất-kinh doanh sụt giảm, nhu cầu quảng cáo ít đi làm cho các tờ báo nghèo càng khó khăn. Hầu hết các báo đặc biệt, các tạp chí chuyên ngành ra hàng tuần, hàng tháng bị các nhật báo, báo điện tử…cạnh tranh luôn trong tình trạng “ăn đong” cả về bài vở và kinh phí. Khi nền tài chính yếu thì việc đầu tư cho công tác, in ấn, đặc biệt nhuận bút kém sẽ không thu hút được những bài viết, thông tin có giá trị. Tờ báo không có bài viết hay thì cũng ít độc giả, ít độc giả thì phải giảm phát hành, giảm phát hành thì giá thành tờ báo càng cao lại không thể khai thác quảng cáo…Đó là cái vòng luẩn quẩn của các tờ báo nghèo…
Những tờ báo, tạp chí chuyên ngành thiên về thông tin, nghiên cứu, phổ biến nghiệp vụ…khó có thể đứng vững, phát triển, xứng đáng là bộ mặt, tiếng nói của bộ, ngành nếu không được cơ quan chủ quản quan tâm, giúp đỡ. Gần đây, hầu hết các tờ báo nhất là các tạp chí chuyên ngành đã phải giảm lượng phát hành, tình trạng các tạp chí “bán cái” khá phổ biến.
Một khó khăn khác là chưa bao giờ nhà báo lại bị bất hợp tác, đe dọa, hành hung…nhiều như thời gian gần đây. Phóng viên báo Người Lao động, Tiền Phong, Công Giáo, Pháp luật TP Hồ Chí Minh…liên tục bị đánh chửi tàn nhẫn khi đang làm nhiệm vụ. Theo thống kê của cơ quan chức năng, từ năm 2006 đến quý 1/2010 đã có hơn 20 trường hợp nhà báo bị cản trở, đe dọa, xúc phạm, hành hung, đánh đập…
Hiện tượng những người làm báo trung thực bị cản trở, hành hung, trấn áp…khi thực thi nhiệm vụ đúng pháp luật nói lên tính khốc liệt của cuộc đấu tranh giữa cái thiện với cái ác, tiêu cực, tham nhũng, lộng hành… Trong cuộc đấu tranh này, nhà báo ở thế yếu do ngoài cây bút, chiếc máy ảnh, ghi âm mà thường dân nào cũng có thể sở hữu họ không có vũ khí gì khác.
Luật Báo chí ghi nhà báo có quyền hoạt động, lấy tài liệu ở nơi nọ, nơi kia và nhà chức trách, doanh nghiệp, người dân…có trách nhiệm cung cấp thông tin cho báo chí nhưng không có chế tài nào để trừng phạt những ai không thực hiện quy định đó như ở nhiều quốc gia khác. Nhà báo hoạt động nghiệp vụ vì nhu cầu, lợi ích xã hội nhưng khi bị ngăn cản, trấn áp, hành hung…thì vẫn chưa được coi là đang thi hành công vụ. Khi xẩy ra vụ việc cản trở, hành hung nhà báo thì sự vào cuộc của cơ quan pháp luật thường rất chậm trễ, thiếu nhiệt tình… Thêm vào đó, gần đây ý kiến cũ rích của thời bao cấp, duy ý chí: “ Báo chỉ nên đăng nhiều cái tốt để át đi cái xấu” lại càng làm cho báo chí giảm khí thế đấu tranh với quốc nạn tham nhũng. Công chúng không thể tin, yêu báo chí khi đọc chỉ thấy toàn tô hồng, minh họa trong khi họ chứng kiến nhiều cái xấu sờ sờ trước mắt…
Một đòn nặng khác mà báo chí đang bị gánh chịu là chế độ thuế khóa bất hợp lý khi nhà nước coi báo chí như một doanh nghiệp. Doanh nghiệp thì được kinh doanh bất cứ thứ gì pháp luật không cấm nhưng báo chí thì không thể đăng những gì có thể với mục đích chỉ…bán báo. Gánh nặng này làm cho đời sống người làm báo lâm cảnh khó khăn dễ nảy sinh tư tưởng đầu hàng, thương mại hóa.
Ngoài “thời thế”, thời gian qua giới báo chí cũng tự làm yếu mình. Có vẻ càng ngày trình độ, mức thận trọng của nhà báo càng thấp? Đăng bài “ăn bưởi bị ung thư”, việc tẩy trứng gà công nghiệp thành trứng gà ta, đăng chuyện “người âm” nói với nhau, chỉ dẫn mồ mả, chuyện ma quỷ thần bí…là những thông tin không thể tin của người có kiến thức phổ thông và thận trọng tối thiểu...
Đã có những hiện tượng khó tin ở báo chí: Tháng 10/2009, (theo báo Tiền Phong) đài phát thanh truyền hình Quảng Bình thu của ông Lê Dư 6 triệu đồng tiền công quay và phát cảnh nhà ông bị tan hoang sau cơn bão số 9 là chuyện đáng xấu hổ. Nhiều tờ báo khác câu khách bằng cách đăng thông tin giật gân, nhảm nhí, scandal chân dài…ngay trên trang nhất…Chuyện đăng bài ve vãn, dọa nạt doanh nghiệp để làm tiền, rồi mò mẫm chỉ thiếu van lạy cơ sở xin quảng cáo…của báo chí ngày càng phổ biến nói lên những khó khăn, rẻ rúng của báo chí, bộ ngành, cơ quan chủ quản…
Tuy nhiên, trong khó khăn vẫn có những nhà báo, tờ báo phát huy được tài năng, giữ vững bản lĩnh, khí tiết của người cầm bút: nâng niu, trân trọng từng việc tốt và kiên quyết chống lại thói hư, tật xấu, tham nhũng, lộng hành... đem đến những thông tin có giá trị cho độc giả. Thiết nghĩ, các nhà báo có lương tri hãy cố gắng giữ trọn niềm tin mà độc giả đã trao cho họ...

