Tác động của vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Cwin.com giải trí hiện đại tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh
Tác động của vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Cwin.com giải trí hiện đại tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh do Lê Văn Phong (Giảng viên Khoa Cwin.com giải trí hiện đại và Quản lý công, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện
TÓM TẮT:
Bài nghiên cứu khảo sát tác động của vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport đến ý định khởi nghiệp của 451 sinh viên ngành Cwin.com giải trí hiện đại tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport, đặc biệt là mạng lưới quan hệ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và môi trường Cwin63 tải ứng dụng đại học, ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Ngoài ra, các yếu tố như khát vọng cá nhân, nhận thức về tính khả thi, khả năng tài chính và trình độ học vấn cũng đóng vai trò quan trọng. Từ đó, nghiên cứu đề xuất tăng cường Cwin63 tải ứng dụng khởi nghiệp trong chương trình đào tạo, xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp và mở rộng kết nối giữa sinh viên với Cwincom hiện đang mở, cố vấn và các nguồn lực CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport.
Từ khóa: vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport, khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, sinh viên, ngành Cwin.com giải trí hiện đại, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức, khởi nghiệp ngày càng trở thành xu hướng quan trọng không chỉ thúc đẩy M.Cwin800.com Nổ hũ, Bắn Cá và Game Bài kinh tế mà còn góp phần tạo việc làm và nâng cao năng lực tự chủ của người Nền tảng hàng đầu cung cấp Cwin com (Audretsch & Keilbach, 2004; Urbano et. al., 2019). Tại Việt Nam, tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm cử nhân vẫn đang ở mức cao, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh - nơi có hơn 46.000 cử nhân không có việc làm trong năm 2022 (Trung tâm Dự báo Nhu cầu nhân lực TP. Hồ Chí Minh, 2022). Trong bối cảnh đó, việc phát triển tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên, đặc biệt là nhóm ngành kinh tế - lực lượng có nền tảng về thị trường, quản trị và tài chính - được xem là một chiến lược dài hạn và cấp thiết.
Tuy nhiên, tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, mặc dù nhà trường đã tổ chức nhiều chương trình hỗ trợ như câu lạc bộ, vườn ươm ý tưởng, kết nối Cwincom hiện đang mở, tỷ lệ sinh viên có ý định khởi nghiệp thực sự vẫn còn thấp. Điều này đặt ra câu hỏi về những yếu tố đang cản trở hoặc chưa được khai thác hiệu quả trong việc khơi dậy tinh thần khởi nghiệp ở sinh viên.
Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích mức độ tác động của vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Cwin.com giải trí hiện đại tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ đóng góp cơ sở thực tiễn và lý luận cho việc thiết kế các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp hiệu quả hơn trong môi trường đại học.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Một số khái niệm cơ bản
Vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport được hiểu là tổng hợp các nguồn lực hiện hữu và tiềm năng bắt nguồn từ các mối quan hệ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport (Bourdieu, 1998). Putnam (1993) cho rằng, vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport gồm lòng tin, chuẩn mực CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và sự kết nối - những yếu tố giúp điều phối hành vi và nâng cao hiệu quả hoạt động cộng đồng. Theo Nahapiet & Ghoshal (1998), vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport gồm 3 chiều: cấu trúc (mạng lưới quan hệ), quan hệ (sự tin cậy, hỗ trợ), và nhận thức (giá trị, tầm nhìn chung).
Trong môi trường đại học, vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport của sinh viên thể hiện qua quan hệ với bạn bè, giảng viên, gia đình và các hoạt động học thuật - từ đó ảnh hưởng đến ý định và hành vi khởi nghiệp. Liao & Welsch (2005) cho rằng, vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport mạnh không chỉ giúp sinh viên dễ tiếp cận thông tin, nguồn lực và cơ hội thị trường hơn mà còn góp phần tăng niềm tin vào tính khả thi của khởi nghiệp thông qua hỗ trợ về mặt tâm lý và CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport.
Khởi nghiệp là quá trình tạo lập Cwincom hiện đang mở mới nhằm khai thác cơ hội thị trường thông qua đổi mới và sáng tạo. Theo Wang et. al. (2011), đây là biểu hiện của khát vọng nâng cao vị thế và đạt được thành công tài chính. Gupta & Bhawe (2007) nhấn mạnh yếu tố đổi mới và khả năng chấp nhận rủi ro là điều kiện tiên quyết cho khởi nghiệp thành công.
2.2. Lý thuyết nền tảng
Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) do Ajzen (1991) đề xuất là một trong những mô hình phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng trong việc giải thích ý định và hành vi của con người. Theo TPB, hành vi của một cá nhân được dự đoán tốt nhất thông qua “ý định hành vi”, yếu tố chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 3 thành phần chính: thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi.
Thái độ phản ánh mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân về hành vi - trong trường hợp này là hành vi khởi nghiệp. Nếu cá nhân tin rằng, khởi nghiệp mang lại lợi ích như tự chủ tài chính, phát triển bản thân, họ sẽ có thái độ tích cực và sẵn sàng hành động.
Chuẩn mực chủ quan là áp lực CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport mà cá nhân cảm nhận được từ những người quan trọng như gia đình, bạn bè, thầy cô, những người có ảnh hưởng đến quyết định của họ.
Cảm nhận về kiểm soát hành vi đề cập đến mức độ tin tưởng của cá nhân vào khả năng và nguồn lực sẵn có để thực hiện hành vi, như kiến thức, kỹ năng, tài chính và môi trường hỗ trợ.
TPB được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu ý định khởi nghiệp, vì nó không chỉ xem xét yếu tố nội tại mà còn tính đến ảnh hưởng của các yếu tố CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và môi trường. Khi kết hợp với lý thuyết vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport, TPB cho phép hiểu sâu hơn cách các mối quan hệ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và hỗ trợ cộng đồng tác động đến thái độ, chuẩn mực và cảm nhận năng lực, từ đó ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp.
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trước
Vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport được xem là một trong những yếu tố ngoại sinh quan trọng ảnh hưởng đến ý định và hành vi khởi nghiệp, đặc biệt trong sinh viên. Dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991), nhiều nghiên cứu quốc tế nhấn mạnh vai trò của mạng lưới quan hệ, sự hỗ trợ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và niềm tin trong việc hình thành ý định khởi nghiệp. Liñán et. al. (2011) khảo sát sinh viên Tây Ban Nha cho thấy gia đình, bạn bè và môi trường học thuật - biểu hiện của chuẩn mực CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport - ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp. Vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport như một chất xúc tác hình thành chuẩn mực tích cực đối với hành vi khởi nghiệp. Klyver & Grant (2010) khẳng định, mạng CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport cung cấp thông tin, lời khuyên và động lực củng cố ý định này. Stam et. al. (2014) nhấn mạnh cấu trúc mạng CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin và nguồn lực, tác động cả giai đoạn hình thành ý định và thực hiện khởi nghiệp. Zali et. al. (2013) chỉ ra vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport tác động gián tiếp qua niềm tin vào năng lực bản thân và nhận thức hỗ trợ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Bích Loan và Khôi Nguyên (2018) cho thấy, vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport từ bạn bè, gia đình và giảng viên tác động tích cực đến thái độ và ý định khởi nghiệp. Thanh Hà và Bích Trâm (2021) dùng mô hình TPB mở rộng khẳng định ảnh hưởng gián tiếp của vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport thông qua thái độ và cảm nhận kiểm soát hành vi. Mỹ Linh (2020) cũng nhấn mạnh vai trò của sự khích lệ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport trong động lực khởi nghiệp. Đặc biệt, Thu Hà và cộng sự (2022) mở rộng vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport qua việc tham gia câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa và mạng lưới nghề nghiệp, ảnh hưởng rõ rệt đến nhận thức và ý định khởi nghiệp của sinh viên.
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để kiểm định mối quan hệ giữa các thành phần vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và ý định khởi nghiệp của sinh viên. Dữ liệu được thu thập qua khảo sát bằng bảng hỏi có cấu trúc, đo lường các khái niệm như vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport (vốn quan hệ, vốn cấu trúc, vốn nhận thức), đam mê khởi nghiệp, tính khả thi của kế hoạch kinh doanh và ý định khởi nghiệp.
3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát trực tiếp 500 sinh viên ngành Cwin.com giải trí hiện đại tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh trong học kỳ 2 năm học 2024-2025. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện được áp dụng. Sau khi làm sạch, có 451 quan sát hợp lệ được sử dụng để phân tích.
3.3. Thang đo và biến quan sát
Ý định khởi nghiệp được đo lường dưới dạng nhị phân: 1 nếu có ý định, 0 nếu không, theo Lüthje & Franke (2003). Vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport, tập trung vào vốn quan hệ, được đánh giá qua mức độ tin cậy, cam kết và hỗ trợ từ các mối quan hệ, sử dụng thang Likert 5 mức (Chen et. al., 2008). Các biến kiểm soát bao gồm giới tính, tuổi, trình độ học vấn của cha mẹ, kinh nghiệm làm thêm và người thân từng khởi nghiệp.
3.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport (Nahapiet & Ghoshal, 1998) và lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991), với biến phụ thuộc là ý định khởi nghiệp. Các biến độc lập gồm vốn quan hệ, vốn cấu trúc, vốn nhận thức, cùng các biến trung gian như đam mê khởi nghiệp, tính khả thi kế hoạch kinh doanh, và các biến kiểm soát nhân khẩu học.
Mô hình được xây dựng nhằm kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
![]()
Trong đó: Entrep là Ý định khởi nghiệp, Khatkhao là Khát khao khởi nghiệp, Gioitinh là Giới tính, Quanhe là Vốn quan hệ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport, Taichinh là Vốn tài chính, Daihoc là Môi trường Cwin63 tải ứng dụng đại học, ε là Sai số ngẫu nhiên.
Các giả thuyết đề xuất nghiên cứu:
Giả thuyết H1: Khát vọng khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh.
Giả thuyết H2: Giới tính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, trong đó nam giới có xu hướng có ý định khởi nghiệp cao hơn.
Giả thuyết H3: Nhận thức về tính khả thi của kế hoạch kinh doanh có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp.
Giả thuyết H4: Vốn quan hệ (mạng lưới CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport) có ảnh hưởng dương đến ý định khởi nghiệp.
Giả thuyết H5: Vốn tài chính có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Giả thuyết H6: Giáo dục đại học (trình độ học vấn) có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Thống kê mô tả
Trong 451 sinh viên ngành kinh tế tham gia khảo sát tại Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, sinh viên năm thứ hai chiếm tỷ lệ cao nhất (43,45%), kế đến là năm thứ ba (32,15%) và năm thứ tư (24,4%). Sự phân bố này phản ánh đúng giai đoạn sinh viên bắt đầu quan tâm và hình thành ý định khởi nghiệp qua học tập và hoạt động ngoại khóa. Về giới tính, sinh viên nữ chiếm 51%, nhỉnh hơn sinh viên nam 49%, phù hợp với xu hướng chung của ngành kinh tế tại các trường đại học Việt Nam.
4.2. Phân tích kết quả hồi quy
Kết quả phân tích hồi quy logistic với 451 quan sát cho thấy mô hình có mức độ phù hợp cao và các biến độc lập đều có ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Chỉ số Pseudo R² đạt 0.7234, phản ánh, khoảng 72,34% biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình. Giá trị LR chi² là 433.76 với p < 0.001, cho thấy mô hình tổng thể có ý nghĩa thống kê. (Bảng 2)
Giới tính (Gioi_tinh): Hệ số odds ratio là 3.203 (p = 0.005), nghĩa là sinh viên nam có khả năng có ý định khởi nghiệp cao gấp hơn 3 lần so với sinh viên nữ. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, cho thấy nam giới thường có xu hướng chấp nhận rủi ro và tự tin hơn trong việc khởi nghiệp (Feng & Chen, 2020).
Khát khao khởi nghiệp (Khat_khao): Với odds ratio là 2.983 (p < 0.001), khát khao khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Sinh viên có khát khao mạnh mẽ sẽ có khả năng cao hơn trong việc theo đuổi các cơ hội kinh doanh, phù hợp với lý thuyết về động lực nội tại trong hành vi khởi nghiệp (Feng & Chen, 2020).
Tính khả thi (Kha_Thi): Odds ratio là 3.224 (p < 0.001), cho thấy nhận thức về tính khả thi của kế hoạch kinh doanh làm tăng đáng kể ý định khởi nghiệp. Điều này nhấn mạnh vai trò của sự tự tin và đánh giá thực tế về khả năng thực hiện dự án kinh doanh.
Quan hệ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport (Quan_he): Với odds ratio là 2.770 (p < 0.001), mạng lưới quan hệ CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp. Vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport cung cấp thông tin, hỗ trợ và nguồn lực cần thiết cho quá trình khởi nghiệp (Wilson et. al., 2007).
Vốn tài chính (Tai_Chinh): Odds ratio là 2.780 (p < 0.001), cho thấy khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính là yếu tố then chốt trong việc hình thành ý định khởi nghiệp. Sinh viên có nguồn lực tài chính ổn định sẽ tự tin hơn trong việc triển khai ý tưởng kinh doanh (Shapero & Sokol, 1982).
Trình độ học vấn (Trinh_do): Hệ số odds ratio là 1.873 (p < 0.001), phản ánh rằng sinh viên ở các năm học cao hơn có xu hướng có ý định khởi nghiệp cao hơn. Điều này có thể do họ đã tích lũy được nhiều kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn hơn trong quá trình học tập.
5. Kết luận và hàm ý chính sách
5.1. Kết luận
Kết quả hồi quy logistic cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng rõ ràng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, bao gồm khát khao khởi nghiệp, nhận thức tính khả thi, hỗ trợ từ mạng lưới CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport, khả năng tiếp cận tài chính và trình độ học vấn. Các phát hiện này nhấn mạnh vai trò của các chương trình hỗ trợ từ nhà trường và cơ quan liên quan nhằm khơi dậy động lực, cung cấp kiến thức, kỹ năng và mở rộng kết nối CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport, tài chính, từ đó tăng tỷ lệ sinh viên khởi nghiệp trong tương lai.
5.2. Hàm ý chính sách
5.2.1. Đối với Nhà trường
Tích hợp Cwin63 tải ứng dụng khởi nghiệp vào chương trình học: Đưa nội dung khởi nghiệp vào các môn học bắt buộc hoặc tự chọn để trang bị kiến thức, kỹ năng cho sinh viên.
Phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ: Thiết lập trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, không gian làm việc chung giúp sinh viên biến ý tưởng thành sản phẩm/dịch vụ.
Xây dựng mạng lưới cố vấn và kết nối Cwincom hiện đang mở: Tạo điều kiện tiếp cận doanh nhân, chuyên gia và nhà Cwin800 hàng ngàn khuyến mãi qua các chương trình cố vấn, hội thảo, sự kiện kết nối.
Tổ chức hoạt động thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp: Các cuộc thi ý tưởng, hội thảo, đào tạo kỹ năng mềm nhằm khuyến khích sinh viên tham gia và phát triển ý tưởng.
5.2.2. Đối với sinh viên
Xác định rõ khát vọng và mục tiêu: Biết rõ mong muốn và giá trị ý tưởng kinh doanh để duy trì động lực và định hướng rõ ràng.
Trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết: Nắm vững kiến thức kinh doanh, quản trị cùng kỹ năng mềm như giao tiếp, đàm phán, làm việc nhóm, quản lý thời gian và giải quyết vấn đề.
Phát triển tư duy chiến lược và sáng tạo: Nhìn nhận toàn diện, dự đoán tình huống và tạo ra ý tưởng mới để cạnh tranh hiệu quả.
Xây dựng và mở rộng mạng lưới quan hệ: Tham gia câu lạc bộ, hội thảo, workshop và các sự kiện để tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh.
Tham gia các hoạt động thực tiễn: Tham gia cuộc thi ý tưởng, thực tập, dự án cộng đồng và ngoại khóa để tích lũy kinh nghiệm và kiểm nghiệm ý tưởng.
6. Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế cần được ghi nhận. Thứ nhất, phạm vi khảo sát chỉ giới hạn ở sinh viên ngành Cwin.com giải trí hiện đại tại một trường đại học, do đó kết quả chưa thể khái quát cho toàn bộ sinh viên các ngành hoặc cơ sở đào tạo khác. Thứ hai, phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện và thiết kế nghiên cứu cắt ngang có thể ảnh hưởng đến tính đại diện và không phản ánh được sự thay đổi của ý định khởi nghiệp theo thời gian. Thứ ba, dữ liệu chủ yếu dựa trên tự báo cáo, dễ bị ảnh hưởng bởi thiên lệch CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport.
Trong tương lai, các nghiên cứu có thể mở rộng đối tượng khảo sát, áp dụng thiết kế nghiên cứu dọc để theo dõi sự biến động của ý định khởi nghiệp và kết hợp thêm phương pháp định tính nhằm hiểu sâu hơn động cơ và bối cảnh ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Bích Loan, T. T., & Khôi Nguyên, L. T. (2018). Tác động của vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: Nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Cwin.com giải trí hiện đại và Dự báo, (27), 45-49.
Thanh Hà, N. T., & Bích Trâm, P. T. (2021). Vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và ý định khởi nghiệp của sinh viên: Ứng dụng mô hình hành vi có kế hoạch mở rộng. CWIN ✅ Nhà cái cờ bạc trực tuyến tốt nhất và Thương hiệu uy tín, 14, 78-85.
Mỹ Linh, V. T. (2020). Ảnh hưởng của môi trường CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport đến động lực khởi nghiệp của sinh viên: Nghiên cứu tại một số trường đại học phía Nam. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh - Cwin.com giải trí hiện đại và Quản trị Cwin.com được xếp hạng cao nhất, 15(3), 51-60.
Thu Hà, N. T., Nguyễn Thị Thúy, & Lê Minh Châu. (2022). Vốn CWIN được cấp phép hợp pháp bởi PAGCOR và Freeport và ý định khởi nghiệp: Trường hợp sinh viên năm cuối ngành kinh tế. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Cwin.com giải trí hiện đại - Luật và Quản lý, 5(2), 101-110.
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
Audretsch, D. B., & Keilbach, M. (2004). Entrepreneurship and regional growth: An evolutionary interpretation. Journal of Evolutionary Economics, 14(5), 605-616.
Bourdieu, P. (1998). Practical reason: On the theory of action (R. Johnson, Trans.). Stanford University Press. (Original work published 1994)
Chen, M. H., Chang, Y. Y., & Lee, C. Y. (2008). Social capital and creativity in R&D project teams: The mediating effects of knowledge integration. R&D Management, 38(1), 21-34.
Feng, L., & Chen, H. (2020). A study on the entrepreneurial intention of college students based on planned behavior theory. Advances in Economics, Business and Management Research, 128, 234-238.
Gupta, V. K., & Bhawe, N. M. (2007). The influence of proactive personality and stereotype threat on women’s entrepreneurial intentions. Journal of Leadership & Organizational Studies, 13(4), 73-85.
Klyver, K., & Grant, S. (2010). The gendered nature of entrepreneurship: Women and men’s self-realization through business ownership. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 16(6), 486-503.
Liao, J., & Welsch, H. (2005). Roles of social capital in venture creation: Key dimensions and research implications. Journal of Small Business Management, 43(4), 345-362.
Liñán, F., Rodríguez-Cohard, J. C., & Rueda-Cantuche, J. M. (2011). Factors affecting entrepreneurial intention levels: A role for education. International Entrepreneurship and Management Journal, 7(2), 195-218.
Lüthje, C., & Franke, N. (2003). The ‘making’ of an entrepreneur: Testing a model of entrepreneurial intent among engineering students at MIT. R&D Management, 33(2), 135-147.
Nahapiet, J., & Ghoshal, S. (1998). Social capital, intellectual capital, and the organizational advantage. Academy of Management Review, 23(2), 242-266.
Putnam, R. D. (1993). Making democracy work: Civic traditions in modern Italy. Princeton University Press.
Shapero, A., & Sokol, L. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. In C. Kent, D. Sexton, & K. Vesper (Eds.), The Encyclopedia of Entrepreneurship (pp. 72-90). Prentice-Hall.
Stam, W., Arzlanian, S., & Elfring, T. (2014). Social capital of entrepreneurs and small firm performance: A meta-analysis of contextual and methodological moderators. Journal of Business Venturing, 29(1), 152-173.
Urbano, D., Aparicio, S., & Audretsch, D. (2019). Twenty-five years of research on institutions, entrepreneurship, and economic growth: What has been learned? Small Business Economics, 53(1), 21-49.
Wang, Y., Ellinger, A. D., & Wu, Y. (2011). Entrepreneurial opportunity recognition: An empirical study of R&D personnel. Management Research Review, 34(10), 1030-1047.
Wilson, F., Kickul, J., & Marlino, D. (2007). Gender, entrepreneurial self-efficacy, and entrepreneurial career intentions: Implications for entrepreneurship education. Entrepreneurship Theory and Practice, 31(3), 387-406.
Zali, M. R., Faghih, N., & Eftekhari, R. (2013). Social capital and entrepreneurial intention: The mediating role of entrepreneurial self-efficacy and opportunity recognition. International Journal of Entrepreneurship and Small Business, 19(2), 218-236.
THE IMPACT OF SOCIAL CAPITAL ON THE ENTREPRENEURIAL INTENTIONS
OF HO CHI MINH CITY OPEN UNIVERSITY’S STUDENTS
• LE VAN PHONG
Lecturer, Faculty of Economics and Public Management,
Ho Chi Minh City Open University
ABSTRACT:
This study investigates the impact of social capital on the entrepreneurial intentions of 451 economics students at Ho Chi Minh City Open University. The findings reveal that social capital, particularly social networks and the university educational environment, has a significant positive influence on students' entrepreneurial intentions. Additionally, personal aspirations, perceived feasibility, financial capacity, and educational attainment also play important roles in shaping entrepreneurial motivation. Based on these results, the study recommends enhancing entrepreneurship education within academic curricula, fostering a supportive entrepreneurial ecosystem, and strengthening connections between students and businesses, mentors, and broader social resources.
Keywords: social capital, entrepreneurship, entrepreneurial intention, students, Economics, Ho Chi Minh City Open University.
[CWIN ✅ Nhà cái cờ bạc trực tuyến tốt nhất và Thương hiệu uy tín - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 17 tháng 5 năm 2025]

